Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease - COPD) là một bệnh thường gặp, có thể dự phòng và điều trị được. Bệnh đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở ra không hồi phục hoàn toàn, sự cản trở thông khí này thường tiến triển từ từ và liên quan đến phản ứng viêm bất thường của phổi với các phân tử hoặc khí độc hại mà trong đó khói thuốc lá, thuốc lào đóng vai trò hàng đầu.
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có phổ biến không?
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính có khoảng 384 triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên thế giới vào năm 2010 với tỷ lệ mắc bệnh là 11,7%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ ba trên thế giới, trong đó 90% các ca tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mức độ trung bình đến nặng chiếm khoảng 6,3% dân số trên 30 tuổi, cao nhất trong 12 quốc gia và vùng lãnh thổ châu Á Thái Bình Dương.
Các yếu tố nguy cơ gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?

Hút thuốc lá, thuốc lào
Hút thuốc lá, thuốc lào là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Khoảng 15 - 20% số người hút thuốc có triệu chứng lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và có khoảng 80- 90% các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có hút thuốc.
Ô nhiễm môi trường
Việc tiếp xúc nặng nề với bụi và hoá chất nghề nghiệp (hơi, chất kích thích, khói), ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà (khói bếp do đun củi, rơm, than...) cũng là yếu tố khởi phát bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Nhiễm trùng đường hô hấp
Nhiễm trùng đường hô hấp ở trẻ em dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi. Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có khả năng làm tăng tính phản ứng phế quản, tạo cơ hội cho bệnh phát triển.
Yếu tố cá thể
Tăng tính phản ứng của phế quản: là yếu tố nguy cơ phát triển bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tăng tính phản ứng phế quản thấy ở 8-14% người bình thường.
Thiếu a1- antitrypsine: là yếu tố di truyền được xác định chắc chắn gây bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.
Tuổi: tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở người già.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?

Bệnh thường xảy ra ở những người có độ tuổi trên 40 tuổi và có tiền sử hút thuốc lá, thuốc lào hoặc nghề nghiệp có tiếp xúc với khói, bụi ô nhiễm...
Biểu hiện ban đầu của bệnh gồm ho, khạc đờm, khó thở với các đặc điểm: Ho nhiều về buổi sáng, ho cơn hoặc ho thúng thắng, có kèm khạc đờm hoặc không. Đờm nhầy, trong, trừ đợt cấp có bội nhiễm thì đờm màu trắng đục, màu xanh và màu vàng. Ở giai đoạn đầu, người bệnh khó thở khi gắng sức như khi leo dốc, leo cầu thang, làm việc nặng, ở giai đoạn sau, tình trạng khó thở nặng dần lên theo thời gian và ở giai đoạn muộn người bệnh thường khó thở liên tục, ngay cả khi nghỉ ngơi.
Khi thăm khám lâm sàng, bác sĩ có thể phát hiện các dấu hiệu như người bệnh có kiểu thở chúm môi, co kéo các cơ hô hấp phụ gồm cơ liên sườn, co kéo hõm ức hoặc thở nghịch thường trong trường hợp nặng, lồng ngực người bệnh hình thùng (đường kính trước sau của lồng ngực tăng lên), gõ phổi vang ở người bệnh có giãn phế nang, nghe phổi rì rào phế nang giảm, có thể thấy có ran rít, ran ngáy, trong đợt bội nhiễm có thể có ran ẩm và ran nổ.
Các thăm dò chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính là gì?
Đo chức năng hô hấp
Đo chức năng hô hấp là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với biểu hiện rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn với thuốc giãn phế quản.
Chụp X quang phổi
Ở giai đoạn đầu đa số hình ảnh chụp Xquang phổi bình thường. Ở giai đoạn sau có thể gặp các hình ảnh tăng đậm các nhánh phế huyết quản hay còn gọi là hình ảnh "phổi bẩn", các dấu hiệu của giãn phế nang gồm lồng ngực giãn, tăng khoảng sáng trước và sau tim, trường phổi quá sáng, xương sườn nằm ngang, khoang liên sườn giãn rộng, cơ hoành hai bên hạ thấp, có hình bậc thang. Cung động mạch phổi nổi và có thể thấy nhánh động mạch thùy dưới phổi phải có đường kính > 16mm. Bóng tim không to hoặc hơi to, tim dài và thõng, giai đoạn cuối có hình ảnh bóng tim to toàn bộ.
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực
Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực lớp mỏng 1mm độ phân giải cao, đặc biệt là chụp cắt lớp vi tính lồng ngực định lượng có thể đánh giá mức độ khí phế thũng. Bên cạnh đó có thể nhận định các dấu hiệu giãn phế quản kèm theo, phân biệt với các tổn thương thâm nhiễm, tổn thương kẽ,...
Điện tâm đồ
Điện tâm đồ có thể thấy các dấu hiệu của dày thất phải, nhĩ phải gồm P phế ở DII, DIII, AVF: P cao > 2,5 mm, nhọn, đối xứng. Tiêu chuẩn dày thất phải gồm ít nhất 2 trong số các dấu hiệu sau: trục phải > 1100; R/S ở V5, V6 <1, sóng S chiếm ưu thế ở DI hoặc bloc nhánh phải không hoàn toàn, P > 2mm ở DII, T đảo ngược ở V1 tới V4 hoặc V2 và V3.
Siêu âm Doppler tim
Nhằm đánh giá mức độ tăng áp lực động mạch phổi và suy tim trái phối hợp. Có thể gặp áp lực động mạch phổi tăng trên 30mmHg, buồng thất phải giãn, suy tim trái phối hợp.
Khí máu
Người bệnh bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nên tiến hành đo khí máu động mạch khi có FEV1 < 50% hoặc lâm sàng gợi ý suy hô hấp hoặc suy tim phải. Thông thường PaO2 giảm từ giai đoạn đầu còn PaCO2 chỉ tăng ở giai đoạn muộn của bệnh. Chẩn đoán suy hô hấp khi PaO2 < 60 mmHg và/hoặc SaO2 < 90%, có hoặc không có PaCO2 > 45 mmHg.
Chẩn đoán xác định khi nào?
Cần nghĩ đến chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người bệnh có các triệu chứng ho, khạc đờm và/hoặc tiền sử phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh. Ho và khạc đờm thường là biểu hiện bắt đầu của sự tắc nghẽn thông khí sau nhiều năm, mặc dù không phải tất cả các cá thể có ho và khạc đờm đều tiến triển thành bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục hoàn toàn với thuốc giãn phế quản với biểu hiện FEV1 giảm, chỉ số Gaensler (FEV1/FVC) < 70% là tiêu chuẩn vàng của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.